Thư viện ảnh Đức Nghiệp

Về quê giữa lòng Hà Nội

(HNM) - Những cảm xúc thân thương, giản dị về những vùng quê Bắc bộ đã được thu lại qua ống kính của các thành viên CLB Nhiếp ảnh Hồng Hà để trưng bày tại Nhà triển lãm 45 Tràng Tiền, Hà Nội từ ngày 14 đến 20-5. Giữa không gian ồn ào, náo nhiệt của trung tâm Thủ đô, công chúng bỗng được trở về với những hương đồng, gió nội.

Khi những tay máy kỳ cựu của nhiếp ảnh nước nhà gặp nhau và lập nên CLB Nhiếp ảnh Hồng Hà năm 2001, nhiều người đã đoán chắc rồi đây CLB sẽ có một cá tính riêng trong làng ảnh Thủ đô. Hàng trăm giải thưởng lớn nhỏ của những cuộc thi ảnh nghệ thuật trong nước và quốc tế liên tục được 19 thành viên gặt hái. Và có một đề tài luôn thao thức trong các sáng tác của mỗi thành viên, ấy là "Quê nhà". Lần triển lãm này chọn lọc những tác phẩm xuất sắc nhất trong hơn 600 ảnh nghệ thuật từ "quê Mẹ". Từng nhiếp ảnh gia đã khắt khe với chính bản thân mình khi đưa ảnh đến tham dự, không kể 4 vòng tuyển chọn của các nghệ sĩ có tiếng trong giới nên hiếm có triển lãm nào sắc nét và lay động đến thế.

Tác phẩm “Bạn trầu” của nghệ sỹ Kim Mạnh.

Nghệ sĩ Đinh Quang Thành, Chủ nhiệm CLB Nhiếp ảnh Hồng Hà kể rằng, những bức ảnh là sản phẩm của những chuyến đi hầu hết bằng xe máy - hay còn gọi là "phượt". Họ, những nghệ sĩ dù đã cao tuổi, có người ở độ "thất thập", nhưng vẫn miệt mài với những chuyến đi từ Đông Bắc đến Tây Bắc; dọc đôi bờ sông Hồng, từ thượng nguồn đến cửa biển; đi ngang dãy Hoàng Liên Sơn hiểm trở, vượt đèo Khau Phạ, trèo lên núi Fansipan, săn mây luồn và đón tuyết ở Sapa… Thế nên những gì đẹp đẽ, thân thương ở làng quê mà mỗi người chúng ta trong bộn bề cuộc sống vẫn hằng nhớ, hằng thương đều gặp lại ở đây. Đó là các em bé vùng cao trong "Tuổi hoa" của Phạm Trung Thành với những tuyết, mây và vạt hoa đào hồng rực triền núi… Kia là "Trung du vàng" (Kim Mạnh) thoai thoải nắng, là "Cánh bãi quê nhà" (Lê Công Ích), "Mùa vàng" (Văn Phúc) trù phú. Rồi những cuộc chơi hội bát ngát ở "Gối hạc" (Lại Hiển), "Cánh diều tuổi thơ" (Lại Diễn Đàm) bên bè bạn thật vui. Có khi còn được về những làng chài ven biển như trong "Đợi" (Nguyễn Việt Hưng), "Thuyền về bến" (Hoàng Kim Đáng), "Được nắng" (Đăng Thanh)… Người xem sẽ thích mê cảnh "Rước lễ lên chùa" (Hoàng Minh), "Đến chợ" (Kim Mạnh)… Lại có những hình ảnh hiếm hoi mà không dễ gì gặp lại, ấy là ký ức khi "Xuôi dòng sông Mã" của Mai Nam; là cổng làng trong "Hoài niệm" của Lê Vượng, hay "Bến lở" mà Đăng Thanh chụp được… Làm sao quên được hình ảnh những cô thôn nữ trong "Gương thu" (Xuân Chính), "Ngõ vắng xôn xao" (Đinh Quang Thành)… Và đúng là ta được về bên mẹ qua "Dây mướp hương" (Quang Thắng), "Cầu phúc" (Tất Bình), "Bạn đến thăm nhà" (Phạm Công Thắng), "Bạn trầu" (Kim Mạnh). Thật hay là những sáng tác ở đây không hề xa khỏi tên nhóm - Hồng Hà. Chúng giúp ta cảm giác như được phiêu du êm ái, nhẹ nhàng từ thượng nguồn về vùng châu thổ của dòng sông chở nặng phù sa, về với mẹ ở quê nhà.

Mỗi bức ảnh là một góc nhìn mà làng quê vẫn đẹp một cách dung dị. Những người phê bình trong giới cũng phải tấm tắc khen triển lãm này có đề tài hay và ảnh đẹp, chuẩn đến mức không phải cắt cúp. Thêm một điều đặc biệt, đây là triển lãm đầu tiên ảnh được in bằng công nghệ mới trên chất liệu nhựa fomex bền, không mờ phai khi bị thấm nước. Chính vì thế, nước ảnh khá thật và nét, tạo cảm giác dễ chịu với người xem.

Nghệ sĩ Đinh Quang Thành cho biết, triển lãm này cũng như những lần tổ chức khác của CLB, sẽ có bán ảnh và toàn bộ số tiền bán ảnh sẽ được các thành viên tặng cho trẻ em của Hà Nội bị phơi nhiễm chất độc da cam, trẻ mồ côi, nghèo khó.

An Nhi 

Nguồn: hanoimoi.com.vn

 

Chi tiết

Chuyến công tác tại Na Rì - Bắc Kạn

Cuối tháng 10 năm 2010, Đoàn chỉnh lý của Công ty Cổ phần Đầu tư Đức Nghiệp lên đường tới huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn làm việc với UBND huyện Na Rì. Đoàn đi chỉnh lý gồm 7 thành viên: Giám đốc Lê Hồng Hải - Đại diện công ty, Trưởng Ban dự án Bùi Thị Liễu, Trưởng Phòng nghiệp vụ Phạm Thị Chung cùng với 4 nhân sự phòng Nghiệp vụ: Dương Thi Bích, Nguyễn Thị Thảo, Nguyễn Thị Quỳnh, Lê Thu Hương.

Khung ảnh trước giờ lên đường đi công tác chuyến đi Na Rì - Bắc Kạn.

 

Vượt qua 6 tiếng ngồi trên xe, qua những đoạn đường khác nhau đã đưa Đoàn chúng tôi tới nơi. Xe đưa Đoàn chúng tôi tới Nhà khách UBND huyện Na Rì, nằm tại Thị trấn Yến Lạc, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn để nghỉ ngơi.

Một góc chụp nhỏ của Thị trấn Yến Lạc khi Đoàn vừa xuống xe.

Sân trước của khu nhà khách huyện Na Rì.

Sáng hôm sau, đúng giờ, Đoàn có buổi gặp mặt và làm việc với UBND huyện Na Rì.

Kết thúc ngày làm việc thứ nhất, mọi thành viên trong đoàn đều phấn khởi, vì tất cả chương trình, nội dung làm việc hai bên đưa ra đều có sự thống nhất cao. Ngoài ra, hai bên còn chủ động nêu ra một số vấn đề nghiên cứu chuẩn bị cho chương trình hợp tác dài hạn trong những năm tới.

Ngày thứ hai, Đoàn bắt tay vào công việc vận chuyển tài liệu vào trong Hội trường nhà khách huyện Na Rì. Khối lượng tài liệu khoảng 65 mét, khiến các thành viên trong Đoàn được một chuyến vận động chân tay sau một ngày ngồi xe lâng lâng hết cả.

Từ ngày thứ 3 trở đi, Đoàn chính thức bắt tay vào công việc chuyện môn đã được bàn và giao. Để cố gắng hoàn thành sớm công việc, Đoàn đã đặt mục tiêu và tinh thần trách nhiệm công việc lên cao nhất.

Thấm thoát đã hết 3 tháng trôi qua, Đoàn đã hoàn thành tốt chuyến công tác và đạt được những yêu cầu, mục tiêu Công ty đặt ra ban đầu. Kết quả đó khẳng định sự đúng đắn, sáng suốt của lãnh đạo và tình cảm hợp tác của các cán bộ UBND huyện Na Rì.

Hình ảnh tài liệu sau khi chỉnh lý và cho vào hộp.

Ngày cuối hoàn thành nốt các công việc chuẩn bị phục vụ công tác bàn giao.

 

 

Chi tiết

Giá, kệ để tài liệu

Đức Nghiệp xin gửi tới Quý khách hàng lời chào trân trọng và hợp tác !

Bảng báo giá:

Tải về/ Tải tại đây....

Chi tiết

THÀNH NHÀ HỒ

Nguồn ảnh: vietnamtravelco.com

Chi tiết

ẢNH DI TÍCH LỊCH SỬ LAM KINH

Nguồn: vietnamtravelco.com

Chi tiết

Trang phục rực rỡ sắc màu ở Hà Giang

 

Đây là những hình ảnh tôi ghi lại được trong hành trình đi cùng đoàn tình nguyện lên mảnh đất Hà Giang, địa đầu Tổ quốc mới đây, mong muốn chia sẻ cùng bạn đọc.

 

Nguồn: vnexpress.net

 

 

Chi tiết

Hà Giang nhìn từ trên cao

Hà Giang nhìn từ trên cao

 

Chi tiết

Núi đồi Hà Giang

 

Núi non hùng vĩ

Núi đôi Quản Bạ

Phá núi mở đường

 

Chi tiết

Thành phố Hà Giang

120 năm thành lập thành phố Hà Giang.

Cầu Yên Biên cũ

Cầu Yên Biên mới

Cây đa cổ thụ Thành phố Hà Giang

Cổng chào thành phố Hà Giang

Cột mốc KM O - Hà Giang

Cột phát sóng truyền hình

 

 

Chi tiết

Chợ tình Khâu Vai

Chợ nằm ở bản Khâu Vai, xã Khâu Vai, tỉnh Hà Giang, cách thị xã Hà Giang 180 km, ở cuối con đường đèo. Mỗi năm một lần, vào ngày 26/3 âm lịch, trai bản trên, gái bản dưới lại tìm về gặp gỡ, giao lưu với nhau.

 

Theo Cẩm Nang Mua Sắm, Khâu Vai là phiên chợ tình nổi tiếng có một không hai ở nước ta, thậm chí còn độc đáo và hiếm có trên toàn thế giới...

Từ chiều 26/3 âm lịch (năm nay nhằm ngày 14/5) từ khắp các nẻo đường chênh vênh trên núi cao, những người dân trong trang phục của dân tộc mình, đã ríu ran, rộn ràng xuống chợ. Những người ở bản xa, cách chợ tình Khâu Vai những ba quả núi, bốn năm con suối... thì đi từ sớm hơn. Khách du lịch chen lẫn với các chàng trai, cô gái người Mông, Dao, Giáy, Lô Lô... như chảy về xã Khâu Vai. Mặc núi đá tai mèo, mặc núi cao suối sâu và những đoạn đường cua tay áo đầy nguy hiểm, họ náo nức, họ phấp phỏng... vì đêm nay sẽ là một đêm tình yêu lãng mạn thăng hoa, mỗi năm chỉ có một lần...

 


Chợ tình Khâu Vai người Mông đông hơn cả. Các chàng trai, cô gái dùng tiếng khèn, tiếng hát để thể hiện tình cảm của mình. Những “Khâu xỉa plềnh”, “Già Xông”... mộc mạc mà chân thành, da diết mà tình cảm. Đó là những bản tình ca giản dị, say đắm. Những lời tỏ tình mộc mạc và dễ thương đã được những đôi trai gái trong đêm chợ thổi vào tình yêu chân thật như chính cuộc sống của họ...

Nguồn ảnh: Internet

Theo vietbao.vn./.


Chi tiết

Chợ phiên ở Đồng Văn: Như chợ Tết miền xuôi

Chợ phiên ở Đồng Văn (trung tâm thị trấn Đồng Văn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang) là phiên chợ diễn ra đều đặn vào ngày chủ nhật hằng tuần. Cứ đến phiên chợ, huyện Đồng Văn lại đông vui như ngày hội bởi ngày này quy tụ đầy đủ các dân tộc của huyện Đồng Văn như: Mông, Giáy, Tày, Nùng, Hán, Lô Lô, Dao, Kinh…


Chợ nép mình dưới chân núi Đồn Cao và được bao bọc bởi khu phố cổ với nét kiến trúc độc đáo hàng trăm năm, đồng thời chợ cũng nằm sát khu trung tâm hành chính của huyện Đồng Văn. Chợ phiên nơi đây bày bán tất cả những nhu yếu phẩm cần thiết của con người trong cuộc sống thường ngày như: Quần áo, giày dép, nông cụ lao động, hóa mỹ phẩm… song rất dân dã và mộc mạc. Từ ngoài cổng, người bán, kẻ mua vui vẻ trao đổi mua bán với nhau bằng ngôn ngữ riêng của từng dân tộc, điều đó tạo cho phiên chợ những nét riêng rất độc đáo.

Chợ phiên Đồng Văn

Góc chợ khu phố cổ là nơi tập trung của những thanh niên và cụ già với những lồng chim choàng khăn đỏ. Tại đây còn có các chàng trai làm việc luôn tay, luôn chân bên những chiếc máy khâu giày. Giày mới khâu cho chắc, giày cũ khâu vá, sửa lại để sử dụng được lâu hơn và chẳng mấy khi vắng khách. Phía dưới vài bước chân là nơi các bà, các cô, các chị bán rượu đứng xếp hàng gọn gàng bên lề đường chờ người mua đến thử, tiếng nói cười, mặc cả mua bán rộn ràng. Rau xanh (đậu răng ngựa, cải mèo…) và hoa quả như lê, đào, táo, hồng… được bày bán rất nhiều ở cổng chợ. Những cô gái trong các bộ váy áo dân tộc tuổi đôi mươi hay những cụ bà đã móm mém răng, có người thì để rau quả ăm ắp trong gùi để bán, người thì đổ lên những bao tải ở dưới đất cao như ngọn núi.




Song, chợ phiên ở Đồng Văn vui và hấp dẫn nhất đối với người đi chợ và chơi chợ chính là những quán bán đồ ăn uống. Bên cạnh những lò thắng cố - món đặc sản của vùng đất nơi đây, đó là những quán rượu. Cánh đàn ông con trai, người quen kẻ lạ hầu như tụ tập về đây để mời nhau chén rượu, điếu thuốc lào. Phiên chợ nào cũng thế, ít nhất cũng có hàng chục thanh niên và cụ già nằm say khướt bên vệ đường hay nằm ngủ lăn lóc trên bắp đùi của vợ, đến khuya mới trở về nhà. Các quầy bếp bán hàng ăn luôn hừng hực lửa, nước sôi ùng ục và bốc hơi béo ngậy. Các bếp nướng bánh gạo quạt than tay, những thúng xôi ngũ sắc bốc hơi nóng làm mờ cả khuôn mặt người bán hàng và người mua.


Hoa Quỳnh (QĐND)

Nguồn: baomoi.com./.

Chi tiết

Di tích lịch sử cấp quốc gia “nhà Vương”

Nằm ẩn mình trong thung lũng mây Sà Phìn, sau những tán sa mộc thẳng tắp vươn mình cao vút, Khu di tích lịch sử cấp quốc gia “nhà Vương” từ lâu đã trở thành điểm đến của nhiều lữ khách khi lên thăm cao nguyên đá Đồng Văn. Nhà Vương như một "pháo đài" của "Vua Mèo" Vương Chính Đức và con trai là Vương Chí Sình (người được Bác Hồ tặng câu đối: "Tận trung báo quốc/ Bất thụ nô lệ") và gia tộc họ Vương.
Đây là một công trình độc đáo, mô phỏng một phần kiến trúc đời Thanh (Trung Quốc) kết hợp với các hoa văn của người Mông với 4 dãy nhà ngang và 6 dãy dọc, kết cấu hai tầng 64 buồng. Khu dinh thự  nằm trên một quả đồi có hình mai rùa, được ví như là “thần Kim Quy", nhìn về hướng nam. Tường được trình bằng đất sét. Móng nhà làm bằng đá, bên trong ghép ván, cột kèo bằng gỗ, sàn lát ván gỗ, mái lợp ngói máng, hiên nhà lợp ngói ống trang trí hoa văn chữ “thọ”. Các bộ phận dù bằng đá hay gỗ đều được chạm khắc cầu kỳ, khéo léo thành hình rồng, phượng… tượng trưng cho sự trường tồn, hưng thịnh của các dòng họ quyền quý. Trải qua gần trăm năm, bao mưa nắng, gió bão, có chỗ đã bị thời gian mài mòn, hoang phế, nhưng về cơ bản đến nay nhà Vương vẫn giữ được hình dáng xưa cũ.
Chênh vênh giữa những lớp đá, lớp núi lô xô trùng điệp, Mã Pì Lèng được du khách coi là một trong "tứ đại đỉnh đèo" tại vùng núi phía Bắc Việt Nam, bên cạnh Đèo Ô Quy Hồ, Đèo Khau Phạ và Đèo Pha Đin. Các học giả Pháp, từ cả trăm năm trước, đã gọi đỉnh Mã Pì Lèng nói riêng và Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn nói chung là một "Tượng đài Địa chất". Đi trên đèo Mã Pì Lèng nhìn xuống vực sâu, con sông Nho Quế chỉ bé như một sợi chỉ mà muốn xuống đến mặt nước của sông phải mất hơn một ngày đường.
Mã Pì Lèng có nghĩa là Sống mũi ngựa, là cung đường đèo hiểm trở, vượt đỉnh Mã Pì Lèng cao khoảng 2.000m, thuộc cao nguyên Đồng Văn, nằm trên con đường mang tên Đường Hạnh Phúc nối liền thành phố Hà Giang, Đồng Văn và thị trấn Mèo Vạc. Hàng vạn thanh niên xung phong thuộc 16 dân tộc của 8 tỉnh miền Bắc Việt Nam làm trong 6 năm (1959-1965) với trên 2 triệu lượt ngày công lao động, trong đó riêng đoạn đèo vượt Mã Pí Lèng được các thanh niên trong đội cảm tử treo mình trên vách núi đá tai mèo mà thi công trong suốt 11 tháng.

Ngày 16/11/2009, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam đã quyết định xếp khu vực Mã Pì Lèng là di tích danh lam thắng cảnh quốc gia. Theo đó danh lam thắng cảnh Mã Pì Lèng bao gồm: đèo Mã Pì Lèng được coi là khu vực di sản đặc sắc về địa chất và cảnh quan; khu vực đỉnh đèo được đánh giá là một trong những điểm quan sát toàn cảnh vào loại đẹp nhất ở Việt Nam; hẻm vực sông Nho Quế là một trong những thung lũng kiến tạo độc nhất vô nhị ở Việt Nam.

Nguồn: vietbao.vn

 

 

Chi tiết

Cột cờ Lũng Cú

Có lẽ người Việt Nam nào cũng mong ước được một lần đặt chân đến Lũng Cú- vùng đất biên cương huyền thoại trên Cao nguyên đá Đồng Văn, nơi được xem là "nóc nhà Việt Nam”, một vùng đất chỉ có trùng điệp là đá mà tạo nên vẻ đẹp quyến rũ, riêng biệt.

Cột cờ Quốc gia Lũng Cú

Từ thị xã Hà Giang lên Lũng Cú, mảnh đất địa đầu Tổ quốc là quãng đường dài 200 km với nhiều khúc cua tay áo, một bên vách đá dựng đứng, một bên vực sâu thăm thẳm. Lũng Cú, tiếng Mông là lũng ngô, thuộc huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Trên chóp đỉnh núi Rồng (Long Sơn), Cột cờ Quốc gia Lũng Cú được thiết kế theo hình bát giác, chân bệ có phù điêu đá xanh mang nét hoa văn của trống đồng Đông Sơn và minh họa các giai đoạn qua từng thời kỳ lịch sử của đất nước, cũng như con người, tập quán của đồng bào các dân tộc Hà Giang. Lá cờ đỏ sao vàng rộng 54m2, tượng trưng cho 54 dân tộc Việt Nam- biểu tượng thiêng liêng của chủ quyền đất nước nơi địa đầu cực Bắc của Tổ quốc tung bay trước gió. Thấp thoáng phía xa xa có thác nước len lỏi sau những vách đá, những ô ruộng bậc thang đan xen. Những  bản làng xinh xắn với nếp nhà sàn ẩn hiện sau những bức tường xếp bằng đá.


 

Vào mùa xuân, hoa mận nở trắng rừng Lũng Cú, xen lẫn những hạt tuyết còn sót lại long lanh dưới tia nắng mặt trời. Dưới thung lũng, hoa đào rực lên trong sương sớm, thấp thoáng những dải sa mộc bạt ngàn như hàng ngàn chiếc ô vươn lên bất chấp sương, tuyết, gió lạnh.

 

Đến nay, ở Lũng Cú còn bảo lưu được những hiện vật lịch sử, văn hóa quý giá tiêu biểu từ thời Hùng Vương. Theo sử sách ghi lại, vào thời Tây Sơn, Hoàng đế Quang Trung đã cho đặt ở nơi biên ải này một chiếc trống lớn, thời đó tiếng trống là phương tiện thông tin nhanh nhất, vị trí đặt trống của nhà vua là trạm biên phòng tiền tiêu Lũng Cú bây giờ.
Nguồn ảnh: Internet

Theo vietbao.vn

Chi tiết

Cánh đồng đá

Nguồn ảnh Internet

Chi tiết

Hoàng Su Phì

Nguồn ảnh: Internet

Theo: vietbao.vn

Chi tiết

Triển lãm ảnh cao nguyên đá Hà Giang

 

Lễ trao giải và khai mạc triển lãm ảnh cuộc thi ảnh nghệ thuật với chủ đề “Đối thoại với di sản địa chất” sẽ diễn ra vào ngày 17-7 tại nhà khách Phạm Ngũ Lão (33 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội), sau đó sẽ triển lãm tại Nhà hát Lớn (1 Tràng Tiền, Hà Nội) vào ngày 18-7, rồi quay về triển lãm tại nhà khách đến hết ngày 20-7.

Triển lãm sẽ trưng bày 77 tác phẩm gồm ba ảnh bộ và 56 ảnh đơn được tuyển chọn từ 2.219 tác phẩm của 179 tác giả từ 37 tỉnh, thành phố trong cả nước tham gia cuộc thi ảnh từ ngày 1-5 đến 10-6 do Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam bảo trợ, nhằm giới thiệu, quảng bá về các giá trị di sản, trong đó có di sản địa chất.

Giải nhất cuộc thi được trao cho tác phẩm “Đá – biển Việt Nam” của tác giả Hoàng Trung Thủy (TPHCM); giải nhì thuộc về “Đàn đá” của Võ Ngọc Lân (Bình Thuận) và “Lý Sơn đảo thần tiên” của Nguyễn Xuân Vinh (TPHCM); giải ba được trao cho ba tác phẩm “Hang Sơn Trà” của Trương Minh Điền (Kiên Giang), “Ngày mới trên đỉnh Phan Xi Păng” của Bùi Quốc Kỳ (Lào Cai) và “Rồng xuống” của Đỗ Khánh Giang (Quảng Ninh).

Ngoài ra, hội đồng giám khảo còn trao 10 giải khuyến khích cho các tác phẩm: “Dưới chân Mã pì lèng” của Nguyễn Văn Hùng (Tuyên Quang), “Cọc Vài Hồ Na Hang” của Nguyễn Văn Hùng (Tuyên Quang); “Về với thiên nhiên” của Ngô Đình Hòa (Bình Thuận); “Biển Ghềnh Son” của Nguyễn Văn Thương (Lâm Đồng);“Khám phá” của Hoàng Ngọc Thạch (Hà Nội), “Thiên đường 01” của Nguyễn Văn Luận (Hà Nội), “Thác Dray nur” của Nguyễn Ngọc Bảo (TPHCM), “Xa khơi” của Nguyễn Thành Vương (Quảng Bình), “Tuổi thơ vùng cao” của Nguyễn Huỳnh Mai (Hà Nội), và “Thiên đường kỳ vĩ” của Nguyễn Thành Vương (Quảng Bình).

Đây là một trong những hoạt động bên lề hội nghị quốc tế lần thứ hai khu vực châu Á – Thái Bình Dương về công viên địa chất (APGN – GEOPARK – 2011) với chủ đề “Công viên địa chất và du lịch địa chất phục vụ phát triển bền vững”.

Hội nghị do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với UBND tỉnh Hà Giang và Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam tổ chức tại Hà Nội và một số địa phương khác trong khoảng thời gian từ ngày 18 đến ngày 24-7.

 

Chi tiết

Năm ngày trên Hà Giang

 

Ngày 1: Hà Nội - Hà Giang: 320 km, chạy từ 11h trưa đến 6h chiều đã ngồi vắt vẻo uống nước bên sông Lô tại thị xã Hà Giang rùi. Một sự xuất quân tương đối thành công.



Ngày thứ 2: Nhởn nhơ quá mức vì cung đường tương đối ngắn: Hà Giang - Lũng Cú - Đồng Văn: khoảng tầm 190km. Chủ quan quá nên ở đâu cũng dừng lại chụp ảnh. Hơn 4h mới rời nhà Vua Mèo lên Lũng Cú, 5 rưỡi mới tới chân cột cờ. Ah thông báo với các bác là đã có đường ôtô, xe máy lên tận gần đỉnh rùi ạh. Nhưng đợt này mới đang làm thôi. Chúng em lên đúng lúc đang nổ mìn làm đường nên phải chờ một lúc mới xuống được. Hơn 6h mới chạy từ Lũng Cú về Đồng Văn. Trời tối nhanh nên mất khoảng 1 tiếng chạy trong bóng tối bốn xung quanh.



Ngày thứ 3: Đồng Văn - Mèo Vạc - Mậu Duệ - Du Già - Minh Ngọc - Km31 Hà Giang Bắc Mê - Tân Quang - Hoàng Su Phì: Hơn 220km, nhiều đường xấu. Đây có lẽ là ngày chạy mệt nhất. Riêng quãng đường 73km từ Mậu Duệ ra Cây 31 HG - Bắc Mê hội em chạy nhanh lắm mà vẫn mất 4 tiếng đồng hồ. Thỉnh thoảng có một số đoạn đường rải nhựa khá ngon, cứ tưởng ra đến đường chính rùi hoá ra chỉ là demo thôi.
4h chiều về đến Hà Giang, hội em mới được ăn trưa. Nghỉ ngơi, lại cafe bên Sông Lô cho đến hơn 5h mới xuất phát đi Hoàng Su Phì. Cứ tưởng là đường ngon nên chủ quan. Không ngờ vừa ra khỏi Hà Giang được mấy cây số trời bắt đầu mưa. Lúc trước gọi cho bạn Chim tự do, thấy bạn có nói các bác khuyên không nên đi trời mưa. Nhưng mà đã quyết rùi nên vẫn đi Hoàng Su Phì. Từ Tân Quang đi Hoàng Su Phì nhìn chung là đường khá ngon lành cành đào. Mưa càng về sau càng nặng hạt hơn. Đến km17 từ Tân Quang lên (về sau hỏi ra mới biết là Cổng trời 1), trời sương mù dày đặc. Cảm giác như chỉ cách có 2 m là cũng đã không nhìn thấy gì. Đi như dò dẫm. Mà bật đèn thì ánh sáng loá không nhìn thấy đường nên tốt nhất là tắt đèn đi còn nhìn thấy đường rõ hơn. May là đoạn đường mù mịt đấy chỉ có khoảng gần 2 cây số thôi. Sau đó thì trời quang hơn và mưa cũng đỡ hơn. Quả thật là lúc đấy cũng đáng sợ vì một bên là vách núi một bên là vực sâu. Nhưng đành phải cố. Đi đến cây 28 từ Tân Quang thì dừng lại nghỉ ở Nậm Ti, trời vẫn mù, lúc đấy là 7h 15 tối.
Sau khi nghỉ ngơi thì tiếp tục đi trong mù. Cứ tưởng hết đoạn cổng trời 2 nó cũng sẽ hết sương nhưng không. Từ chỗ nghỉ cứ mò mẫm như thế hơn 10 cây số. Sương xung quanh và mù mịt. Lại dò dẫm. Sau đó thì trời tạnh hẳn. Sương cũng tan nhiều.
Chúng em đến Hoàng Su Phì lúc 8h30 phút. Kết thúc một ngày vô cùng mệt mỏi ở đây.



Ngày thứ 4: Hoàng Su Phì - Xín Mần - Lùng Phình - Cán Cấu - Lùng Sui - Bắc Hà:
Đoạn đường không quá dài nhưng biết trước là khó khăn. Đoạn từ Hoàng Su Phì đến Xín Mần không có gì phải lăn tăn. Đến 9 rưỡi sáng chúng em mới xuất phát vì nghỉ bù cho ngày đi hôm trước.
Đoạn Xín Mần - Bắc Hà thì các bác đã nói nhiều rùi. Ơn giời hôm đấy lại không mưa. Lúc đầu gặp cái oto đi ngược chiều thấy nó bảo đường tốt, thế là hăm hở lắm. Công nhận được khoảng chục cây đầu thì đường tốt thật, làm hội em cứ hí hửng đoán chắc là okie hết rùi. Thế là đi thôi. Đến hết 10 cây đầu thì đường đất cấp phối. Bắt đầu xấu kinh. Ngay đầu đoạn đường xấu, gặp một anh Mông thủng săm. Hội em dừng lại giúp vì nó chả có đồ nghề gì cả. Hehe, tự nhiên được tập dượt một lần (trước đấy đã vá săm bao giờ đâu.) Vá xong xe cho nó thì thấy yên tâm vì nếu xe mình có sao thì cũng okie không ngại gì cả.
Con đường đúng là xấu, trên đường có nhiều xe hỏng. Xe thì thủng săm, có con minsk thì bị dính côn. Đúng là cái đường đấy mà xe không hỏng cũng là tài. rất may xe em cũng không sao các bác ạ. Có đoạn dài nó rải đá hộc, đi cũng khó mà dắt cũng khổ. Nói chung là mệt người
Cũng có nhiều ngã ba nhưng không quá khó nhận biết lắm, nói chung cứ đường thẳng mà đi.
Em đến Lùng Phình hơn 1h chiều, chạy qua chợ Cán Cấu xem còn gì sót lại không quay về bằng đường Lùng Sui vì nghe bạn Chim tự do quảng cáo đường đấy là đường mận, đẹp lắm. Rất tiếc mùa này chẳng còn tí hoa hoét nào. Đường thì xấu kinh khủng. Còn hơn cả đường từ Xín mần sang, hic hic (bắt đền bạn chim.)
Sau đó về Bắc hà ngơi nghỉ

.

Ngày thứ 5: sáng chơi chợ Bắc Hà , nghĩ quãng đường về (đường 70) nó cũng ngon như đường chạy lên Hà Giang nên rất đủng đỉnh. Chơi chán đến hơn 2 rưỡi mới về. Nhưng không ngờ đoạn đường này xấu thê thảm, xóc nẩy hết cả người, không đi nhanh được mà trời lại nhanh tối. Chúng em về đến Yên Bình là hơn 7h tối. Định ăn tối nhưng lại quyết là về Việt Trì rồi ăn còn lại chỉ nghỉ ngơi thôi. Nhưng mà về việt trì thì lại muốn chạy thẳng về HN rùi tính gì thì tính. Thế là dốc hết sức. Từ Vĩnh Yên là mưa lâm thâm rùi to dần. Về đến Hà Nội thì ướt nhoét và cũng là 11h kém 15 rùi. Thế là ăn uống rùi về nhà. Kết thúc chuyến đi 4 ngày rưỡi nhiều thú vị và cũng mệt mỏi.
Send To các bác: Các cung đường đều ổn cả, mặc dù xấu nhưng vẫn cứ nên thử. Cảnh thì miền núi chỗ nào cũng đẹp cũng hùng vĩ rùi. Nên nhớ mang đồ nghề đầy đủ, không giúp mình thì cũng giúp người ta. Hehe.

Theo hagiangtour.net

Chi tiết

Ảnh Hà Giang

Tổng quan chung

Một số hình ảnh về các cơ quan hành chính của Hà Giang

Các di tích đền lịch sử và lễ hội trên đất Hà Giang

 

Hà Giang tham gia hoạt động bảo vệ môi trường với sinh viên Đại học Tài Nguyên và Môi Trường Hà Nội

 

 

 

Chi tiết

Võng Thị - ngôi làng trong phố

Võng Thị xưa kia là một phường thuộc huyện Quảng Đức của Kinh thành Thăng Long. Trải qua bao thăng trầm của thời gian, làng Võng Thị còn được giữ nguyên tên gọi và nay thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội.

Làng Võng Thị xưa kia có một số ít ruộng nằm ven hồ Tây, nên chỉ có một bộ phận rất nhỏ làm ruộng kết hợp thả sen; còn đa phần dân làng sống bằng nghề đánh cá trong hồ. Tên gọi “Võng Thị” xuất phát từ đặc điểm này (võng là lưới cá).

 

Cũng có ý kiến cho rằng, từ xa xưa tại đây đã hình thành một chợ bán lưới đánh cá nên gọi như vậy.

Ngoài đánh cá, dân làng còn làm giấy, dệt vải và buôn bán. Cạnh đình làng hiện nay có bến Cổ Đô, xưa kia là một bến lớn, trên bến dưới thuyền buôn bán sầm uất. Bến này là “vệ tinh” của chợ Bưởi cách làng không xa - một chợ lớn ở ngoại ô Kinh đô Thăng Long xưa.

Đình Võng Thị thờ Mục Thận - ông là Thái sư Lê Văn Thịnh đã lập công trong "Vụ án hồ Dâm Đàm" vào tháng Ba năm Bính Tý đời vua Lý Nhân Tông (năm 1096). Lê Văn Thịnh là người làng Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, đỗ đầu kỳ thi Nho học đầu tiên của nước nhà - năm Ất Mão (1075).

Ông là người văn-võ song toàn, từng dẫn đầu phái bộ nhà Lý sang Quảng Tây (Trung Quốc) đàm phán thành công, buộc nhà Tống phải trả lại cho Việt Nam diện tích đã chiếm, rồi làm Thái sư trong 11 năm (1085-1096).

Đường vào làng Võng Thị trước là con đường đất chạy men ra đến đình Võng Thị, đền cổ Sùng Khánh, được dựng cuối đời vua Lý Nhân Tông (1072-1128) rồi ra đến hồ Tây, nay đã là một phố đẹp, rất đặc biệt của Hà Nội.

Năm 2001, con đường đã được gắn biển phố Võng Thị. Một phố mới chạy vòng quanh hồ Tây, bờ được kè đá, có những hàng cây xanh, những khu biệt thự mới xây cùng các tòa nhà cao bảy, tám tầng và hàng trăm phòng nghỉ, an dưỡng hướng mặt đón gió hồ, ngắm con phố làng đang rộng cánh tay ôm lấy hồ Tây, tạo một cánh cung phong thủy đẹp như một bức tranh thủy mặc rất độc đáo của Thủ đô.

Bên cạnh sự thay da đổi thịt của một làng ven hồ thành phố thị, du khách vẫn tìm được ngay trên phố mới những khoảng không gian tĩnh lặng và một miền tâm linh cổ kính của Tây Hồ xưa.

Với tốc độ phát triển Thủ đô hiện đại, Võng Thị - làng trong phố sẽ nhanh chóng trở thành một điểm đến hấp dẫn của du khách trong quần thể du lịch Tây Hồ./. 


Theo Vietnam+

 

 

 

Chi tiết

Thanh tao trà sen Hà Nội

Một mùa sen nữa lại về trong cái nắng vàng oi ả đầu hạ. Sen về, đó cũng là lúc cái thú thanh tao thưởng trà sen của người Hà thành lại được dịp thể hiện.

Như một cái hẹn, cứ khi nào thấy hoa phượng đỏ rực làm cháy cả góc phố, bằng lăng tỏa màu tím thẫm bên hiên nhà ai…và tiếng ve thì râm ran khiến lòng người thêm rạo rực là lòng tôi lại khấp khởi đợi chờ mùa sen.

Mùa sen về, chẳng cần ai phải nhắc. Người ta cứ thế kéo nhau tới những đầm ở Hồ Tây để chụp ảnh, để trò chuyện, để ngắm hoa, để lòng được tĩnh lại sau những phút giây bộn bề của cuộc sống. Mà cũng lạ, những người sành sen thường bảo, hương sen tinh khôi nhất là vào lúc chiều tà. Thế nhưng, ở Hà Nội, đầm sen đông vui và tấp nập nhất lại là vào lúc sáng sớm.

Khi mặt trời còn lấp ló sau rặng cây, cái nắng mai mới chỉ kịp gõ cửa. Giữa một khoảng không bao la rộng lớn, hơi lạnh ban đêm dần bị xua đi. Đâu đó, tiếng khua chèo mái thuyền nhè nhẹ khỏa nước làm vỡ tan bầu không khí của buổi sớm, đó là lúc những người dân cần mẫn đi làm công việc quen thuộc của mình – hái sen ướp trà.

Chiếc thuyền cứ nhè nhẹ rẽ sóng trôi đi. Từng bông sen được nâng niu cẩn thận, sen ôm lấy trà, ướp thứ hương thơm nhẹ nhàng thanh khiết của mình để giúp trà thêm hương. Người Hà Nội gọi thứ trà được ướp một cách cầu kỳ và tinh tế như thế là trà sen.

Đứng trong vô vàn những loại trà khác như trà hoa cúc, trà hoa mai…thì trà sen vẫn được người Hà Nội ưu ái hơn hẳn. Tháng sáu, mùa sen về, sen theo chân những gánh hàng rong ùa ra phố mang đến một dáng vẻ mới cho Hà Nội cổ kính. Sen tràn ngập khắp phố phường, sen hòa mình trong những món ăn và “hóa thân” thành hương thơm trong những ấm trà.

Ướp trà sen đã khó, nhưng cái khó hơn chính là việc thưởng thức trà sen như thế nào để cảm nhận hết tinh hoa của chén trà mới là quan trọng.  Nói về thú thưởng trà, có lẽ không nơi đâu có thể sánh với người Hà Nội. Chính sự cầu kỳ và tinh tế trong cách thưởng trà của người dân Kẻ chợ đã khiến thú vui tao nhã này trở nên đặc biệt hơn so với nhiều vùng khác.

 

Sau khi rót trà ra tách, người thưởng thức phải nâng niu chén trà, áp hai bàn tay vào chén để cảm nhận hơi ấm tỏa ra, sau đó chậm rãi đưa lên mũi ngửi, cảm nhận hương của chén trà rồi mới thong thả nhấp từng ngụm một để lắng nghe vị chát nơi đầu lưỡi và ngọt dần nơi cổ họng. Thưởng thức trà sen cần sự tinh tế đến tỉ mỉ, không ai uống trà sen khi chén trà đã nguội, lại càng không ai vội vàng uống hết khi chén trà vẫn còn nóng. Người ta bảo, uống trà sen như vậy là đã làm mất đi cái thanh của chén trà.

Thưởng thức trà sen là phải cảm nhận không chỉ bằng vị giác mà bằng tất cả những giác quan trên cơ thể, có thể mới thấm thía, mởi hiểu hết được tinh hoa ý nghĩa của chén trà.

Thủa xưa, thưởng trà sen được coi là một nghệ thuật của những người Hà Nội gốc, cái thú được dạo quanh hồ sen những sáng sớm, ngắm nhìn Tây Hồ lộng gió, nhâm nhi chén trà và đàm đạo chuyện thế gian là thói quen của nhiều người. Nhưng giờ đây, dòng chảy của thời gian dường như đã làm mờ nhạt thói quen ấy. Người ta uống trà lúc này chỉ là để giải khát hoặc uống cho có, ít người có thời gian để thưởng trà theo đúng cách.

Tuy nhiên, nếu một lúc nào đó, rảnh rỗi, người ta lại muốn được tìm về với những thói quen thủa xưa, được thảnh thơi nhấp ngụm trà sen, lắng nghe dòng thời gian trôi đi và cùng nhau nói về những chuyện đã qua…

Theo dantri.com.vn

 

 

Chi tiết

“Ngột ngạt” phố cổ


(HNM) - Khu vực phố cổ có 128 di tích lịch sử, văn hóa có giá trị, nằm lẫn trong khu dân cư đông đúc. Nhiều di tích còn nguyên giá trị, nhưng cũng không ít di tích bị xâm hại. Làm thế nào để bảo tồn mà không mâu thuẫn với phát triển? Để tìm hiểu rõ hơn đời sống của cư dân nơi phố cổ, chúng tôi đã làm cuộc khảo sát thực địa, lần giở sử sách để tự cắt nghĩa vì sao phố cổ "ngột ngạt" đến thế.

Sau khi đánh tan quân Minh không lâu, Đông Kinh trở lại sầm uất như Thăng Long triều nhà Trần. Dân cư đông đúc, các xưởng thủ công do triều đình mở thu hút thợ giỏi khắp nơi và dù mang nặng tư tưởng Nho giáo về "sĩ, nông, công, thương", song buôn bán ở Đông Kinh vẫn phát triển. Bất chấp lệnh cấm, các quan trong triều vẫn núp sau vợ con mở cửa hàng buôn bán và sản xuất hàng thủ công nên kinh đô vẫn nhộn nhịp. Đông Kinh đông đúc, nảy sinh tệ nạn xã hội như cờ bạc, trộm cướp… Trước thực trạng đó, mùa thu năm 1481, triều đình ra chỉ dụ bắt tất cả người nhập cư trở về bản quán của họ. Tuy nhiên, một viên quan trong triều là Quách Đình Bảo đã can gián, cho rằng làm như thế "Nơi kinh sư buôn bán sẽ thưa thớt, không còn sầm uất phồn thịnh nữa, ngạch thuế sẽ thiếu hụt". Đến cuối triều Lê, Đông Kinh được mở rộng về phía Đông và Đông nam thành khi các chúa Trịnh xây lầu bên hồ Hoàn Kiếm và ngăn hồ thành Tả Vọng và Hữu Vọng.

Hơn chục hộ dân sống trong không gian chật chội nhà 27 phố Hàng Bạc. Ảnh: Khôi Ngô

Giữa năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy niên hiệu là Gia Long, đưa quân ra Bắc, chiếm Bắc thành từ nhà Tây Sơn. Nguyễn Ánh không đặt đô ở Thăng Long mà chọn Phú Xuân vốn trước đó là nơi đóng quân của nhiều đời chúa Nguyễn. Mặt khác, Nguyễn Ánh cũng biết người dân, nhất là tầng lớp sỹ phu Bắc Hà, vẫn nặng lòng với nhà Lê và Tây Sơn không tin mình, ở lại Thăng Long là mối nguy lớn trước mắt cũng như lâu dài. Thế là sau hơn 800 năm là kinh đô, Thăng Long trở thành trấn thành. Năm 1831, Vua Minh Mạng lại hạ cấp Thăng Long từ trấn xuống tỉnh.

Năm 1815, Gia Long công bố Hoàng Việt luật lệ (hay còn gọi là Luật Gia Long), bộ luật thứ hai của các triều đại phong kiến Việt Nam sau Luật Hồng Đức đời Hậu Lê. Luật có 22 quyển với 398 điều, bao quát các mặt của đời sống chính trị, xã hội. Năm 1820, khi Minh Mạng lên ngôi đã cho sửa luật phù hợp với cách cai quản của mình. Trong Luật Gia Long và luật sửa của Minh Mạng đều có các điều khoản quy định về xây dựng ở Hà Nội: "Nhà trong trường hợp nào cũng không được xây trên nền 2 cấp hay chồng 2 mái. Cấm làm nhà có gác cao bằng vai kiệu trương quan đi tuần" và "Cấm không được trổ cửa sổ ra bên đường". Khi Pháp chiếm hoàn toàn Hà Nội năm 1883 và Hà Nội trên thực tế do Công sứ Pháp cai quản nhưng người dân vẫn sợ, không dám xây nhà trái với Luật Gia Long. Phải đến năm 1888, Hà Nội thành nhượng địa của Pháp thì luật trên mới bị bãi bỏ. Như vậy là trong suốt 73 năm, kể từ khi công bố Luật Gia Long, nhà cửa ở khu vực 36 phố phường chỉ thấp và nhỏ.

Thập kỷ thứ ba và thứ tư của thế kỷ XX, nhờ có xi măng, sắt thép, gạch men hoa... nhập từ nước ngoài cộng với vật liệu trong nước như đá và gỗ, nhiều gia đình khá giả ở khu vực 36 phố phường đã phá dỡ nhà cũ, xây cao hơn, nhưng chính quyền lúc bấy giờ cũng không cho phép xây cao quá 3 tầng. Ai muốn xây cao hơn thì phải ra khu vực khác.

Phố nghề truyền thống Hàng Bạc, bên trong là những xưởng chế tác đồ trang sức.

Mặt tiền hẹp vì chính sách thuế

Dù vua Gia Long hạ cấp Thăng Long là trấn thành rồi đến đời Vua Minh Mạng thành tỉnh Hà Nội, song Thăng Long - Hà Nội vẫn là trung tâm buôn bán sầm uất, hàng hóa từ đây tỏa về các tỉnh và từ các tỉnh đổ về. Dẫu triều Nguyễn không mặn mà với các thương nhân nước ngoài nhưng hàng nông sản, thủ công vẫn lên các tàu buôn ra nước ngoài và câu phương ngôn cổ "Muốn không đói ra Kẻ Chợ. Đừng lên rợ mà chết" vẫn đúng. Hà Nội chỉ hoang vắng trong hai đợt chạy loạn, khi Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ nhất vào năm 1873 và lần thứ hai vào năm 1882. Cuốn "Chuyện kể bên dòng sông Tô" của Viên Mai Nguyễn Công Chí, ghi chép về nhiều đời họ Nguyễn quê gốc làng Hạ Thái (huyện Thường Tín, Hà Nội) từ khi họ rời làng lên khu phố Diên Hưng (sau là Hàng Lam và nay là Hàng Ngang), cho thấy Hà Nội dưới triều Nguyễn phát triển nhanh nên giá đất ở khu vực 36 phố phường tăng lên chóng mặt. Dân phố Hàng Lam, vốn có nghề nhuộm vải đã bán nhà rồi kéo nhau xuống mua đất ở khu vực Hàng Bông Nhuộm rẻ hơn để mở xưởng, còn tiền dư để làm vốn. Chính sách thuế của nhà Nguyễn từ Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức đến các đời vua sau đối với Hà Nội hầu như không thay đổi. Họ không căn cứ vào buôn to hay buôn nhỏ mà thu thuế theo mặt tiền cửa hàng, bất kể chiều sâu là bao nhiêu. Chiều ngang càng rộng thì thuế càng nhiều. Kiểu thu thuế này khiến nhiều gia đình có mặt tiền rộng nhưng làm ăn không được phải è lưng đóng thuế. Thế là các ngôi nhà vốn vuông vức, rộng rãi thời Lê bị xẻ nhỏ chia cho con cái, có nhà thì bán hay cho thuê. Và kiến trúc nhà ống ra đời trong thời nhà Nguyễn…

Nguyễn Ngọc Tiến

Nguồn:hanoimoi.com.vn

Chi tiết

Đêm Hà Nội lung linh

 

Hà Nội thật đẹp, thật lung linh nơi thời gian ngưng lại với cuộc dạo chơi của ánh sáng! Yêu Hà Nội nhiều lắm, Hà Nội ơi!

 

Phố Tràng Tiền

Nhà hát lớn

Khách sạn Hilton

Nhà hát thành phố

Một chiếc xích lô trước nhà hát

Hồ Hoàn Kiếm

Hầm Kim Liên

Bùi Huy Vũ

Nguồn: vnexpress.net

Chi tiết

Hà Nội thanh khiết bưởi tháng Ba

Hà Nội tháng Ba, hoa bưởi nở rộ khắp các khu vườn ven đô. Người dân Hà Thành náo nức tìm kiếm những gánh hàng, những chiếc xe đạp chở đầy những bông hoa bưởi thơm mát thuần khiết.

Những gánh hoa bưởi  đang hiện diện ở Hà Nội, chủ yếu được trồng ở vùng Thanh Oai, Hà Tây cũ. Xã Cao Viên là nơi mang đến những bông hoa đang tỏa hương khắp phố phường này. Người dân ở đây chỉ trồng cây bưởi để lấy hoa, nếu có trái, họ sẽ ngắt từ khi còn xanh để chuyển cho những nơi chế biến tinh dầu.

Chợ Đông Tác, Kim Liên là nơi tập trung nhiều nhất những gánh hàng bán loài hoa này. Chị Mến vừa xếp những chum hoa bưởi lên chiếc mẹt đặt ở yên xe, vừa tíu tít kể: “Năm nào chị cũng bán ở đây. Hoa sẽ còn khoảng 2 tuần nữa”.

Những gánh hương bưởi mang đến Hà Nội sự thanh khiết lạ lùng vào mỗi buổi sớm

Cũng theo lời chị Mến, hầu hết những người bán hoa bưởi quanh đây đều là người Thanh Oai. Mỗi ngày đều đặn từ sáng đến chiều, một người bán hàng như chị bán được khoảng một yến hoa.

Trong những món quà người Bắc gửi đi Nam không thể thiếu gói bột sắn thơm mát mùi hoa bưởi. Hoa  sẽ được bỏ hết nhụy, đài, chỉ giữ lại cánh và phơi khô trong nhiều tháng rồi mới được đưa vào ướp.

Những chiếc xe kĩu kịt hoa bưởi được người dân Hà thành ưa thích

Người Hà Nội yêu hoa đến lạ. Từ rất lâu rồi, hương hoa bưởi đã trở nên một điều thân thuộc với mỗi người Hà Thành.  Hương bưởi thoang thoảng bên ấm trà buổi sáng. Hoa bưởi được đặt trong đĩa để giữa phòng khách. Hoa cũng được người Hà Nội dâng lên ban thờ gia tiên một cách thành kính.

Những ngày này, bất cứ ai cũng cảm thấy xao xuyến khi đi qua gánh hoa bưởi đầu phố hoặc không thể không dừng lại ở bên chiếc xe đạp cũ kỹ giữa chợ để mua đôi ba lạng hoa.

Những người dừng lại trước trước chiếc xe đạp cũ kỹ chở hoa của chị Mến có cả những cụ ông 70 tuổi, những cặp vợ chồng, phụ nữ và những bạn rất trẻ. Hoa dường như là một phần hiển nhiên trên mảnh đất kinh kỳ này.

Theo dantri.com.vn


Chi tiết
Hỗ trợ trực tuyến
Ms.Hiên Phòng Nghiệp Vụ
 0989326990
Đối tác
Khách hàng